Bài giảng Triết học Mác - Lênin - Tiền đề về lý luận cho sự ra đời của Triết học Mác - Lênin

Bài giảng Triết học Mác - Lênin - Tiền đề về lý luận cho sự ra đời của Triết học Mác - Lênin



Đăng báo Quốc tế ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn


ĐĂNG BÁO QUỐC TẾ GẤP TRONG THÁNG 5/2020
tất cả các ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn
hạn nhận bài: 20/05/2020, chi tiết

Read more

[tintuc]
Tiền đề về lý luận cho sự ra đời của Triết học Mác - Lênin


            Chủ nghĩa Mác ra đời xuất phát từ nhu cầu khách quan của lịch sử, nó không phải là một trào lưu biệt phái, nó không tách rời nền văn minh chung của nhân loại mà nó là kết quả của sự kế thừa và hoàn thiện những tư tưởng của nhân loại, đặc biệt là: triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.

          Triết học cổ điển Đức

Tiêu biểu là Hêghen và Phoiơbắc đã có ảnh hưởng to lớn và rất quan trọng về mặt lý luận đến sự phát triển thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng của Mác và Ăngghen.

            + Đối với Hêghen (1770-1831), hai ông đã tiếp thu có phê phán:
            Theo đánh giá của Mác và Ăngghen, công lao của Hêghen trước hết là ở chỗ ông đã phê phán mạnh mẽ phương pháp tư duy siêu hình và đối lập với phương pháp biện chứng. Hêghen là người đầu tiên đã diễn đạt những qui luật của phép biện chứng và nó được xem như linh hồn của mọi nhận thức khoa học (nó vạch ra trong mỗi đối tượng những mâu thuẫn bên trong, sự phát triển của mâu thuẫn dẫn tới phủ định một đối tượng này và xuất hiện một đối tượng khác).

            Đồng thời với việc đánh giá cao công lao của Hêghen trong việc phát triển phép biện chứng, Mác và Ăngghen đã phê phán quyết liệt chủ nghĩa duy tâm của ông biểu hiện trong học thuyết về ý niệm tuyệt đối, trong quan niệm về nhà nước và pháp quyền.

            Trên cơ sở đấu tranh phê phán chủ nghĩa duy tâm, giải phóng phép biện chứng của Hêghen khỏi tính chất duy tâm, thần bí, Mác và Ăngghen đã xây dựng phép biện chứng duy vật- hình thức cao nhất của phép biện chứng, đối lập căn bản với phép biện chứng của Hêghen.

            + Đối với Phoiơbắc (1804-1872):
            Những tư tưởng triết học vô thần của ông, tạo tiền đề lý luận quan trọng cho bước chuyển của Mác và Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản.

            Phoiơbắc đã từ bỏ chủ nghĩa duy tâm của Hêghen một cách triệt để, phê phán mạnh mẽ tôn giáo; ông khẳng định giới tự nhiên là tính thứ nhất, không phụ thuộc vào con người và tồn tại vĩnh viễn, không Do ai sáng tạo ra; con người cũng là sản phẩm của giới tự nhiên; thần thánh không sáng tạo ra con người, mà con người sáng tạo ra thần thánh theo hình mẫu của mình tuỳ thuộc vào những điều kiện sống nhất định. Mặc dù vậy, Phoiơbắc đã không hiểu được cuộc đấu tranh chính trị xã hội, không hiểu vai trò của thực tiễn.

            Tuy chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi triết học Phoiơbắc, nhưng Mác và Ăngghen đ• tiếp thu triết học đó một cách có phê phán. Hai ông không vứt  bỏ hoàn toàn triết học của Hêghen như Phoiơbắc đã làm. Chủ nghĩa duy vật của Mác và Ăngghen là chủ nghĩa duy vật triệt để, còn chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc vẫn chưa thóat khỏi tính chất duy tâm và siêu hình đặc biệt khi xem  xét lĩnh vực xã hội.

         Kinh tế chính trị học cổ điển Anh

          Với tinh thần tiếp thu có phê phán những quan điểm của Adam Smith (1723-1790) và Đavid Ricarđô (1772-1823), Mác và Ăngghen đã khắc phục tính chất duy tâm trong các quan niệm về xã hội của chủ nghĩa duy vật trước Mác và xây dựng các quan niệm duy vật về lịch sử.

            + Về ưu điểm: Adam Smith và Đavid Ricarđô là những người mở đầu lý luận về giá trị trong kinh tế chính trị học bằng việc xây dựng học thuyết về giá trị lao động. Các ông đã đưa ra những kết luận quan trọng về giá trị và nguồn gốc của lợi nhuận, về tính chất quan trọng hàng đầu của quá trình sản xuất vật chất, về những quy luật kinh tế quách quan.

            + Về hạn chế: Do những hạn chế về phương pháp nên các nhà kinh tế học chính trị cổ điển Anh đã không thấy được tính lịch sử của giá trị; không thấy được mâu thuẫn của hàng hóa và sản xuất hàng hóa; không thấy được tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cũng như không phân biệt được sản xuất hàng hóa giản đơn với sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa; chưa phân tích được chính xác những biểu hiện của giá trị trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

            + Kế thừa những yếu tố khoa học trong lý luận về giá trị lao động và những tư tưởng tiến bộ của các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh, Mác đã giải quyết những bế tắc mà bản thân các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh đã không thể vượt qua được để xây dựng nên lý luận về giá trị thặng dư, luận chứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinh tế của sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản cũng như sự ra đời tất nhiên của chủ nghĩa xã hội.

            Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp

            Mác và Ăngghen nghiên cứu có phê phán những tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng mà đỉnh cao của nó là vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với các đại biểu tiêu biểu như H.Xanhximông (1760-1825), S.Phuriê (1772-1837) người Pháp và Rôbớt Ôoen (1771-1858) người Anh, đã giúp cho các ông hiểu một cách duy vật biện chứng về đời sống xã hội, dự báo được sự phát triển tương lai của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.

            + Về ưu điểm: chủ nghĩa xã hội không tưởng thể hiện đậm nét tinh thần nhân đạo, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản trên cơ sở vạch trần cảnh khốn cùng cả về vật chất lẫn tinh thần của người lao động trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và đã đưa ra nhiều quan điểm sâu sắc về quá trình phát triển của lịch sử cũng như dự đóan về những đặc trưng cơ bản của xã hội tương lai.

            + Về hạn chế: chủ nghĩa xã hội không tưởng đã không luận chứng được một cách khoa học về bản chất của chủ nghĩa tư bản, không phát hiện được quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản và cũng không nhận thức được vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng xã hội có khả năng xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để xây dựng một xã hội bình đẳng, không có bóc lột.

            + Tinh thần nhân đạo và những quan điểm đúng đắn của các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng về lịch sử, về đặc trưng của xã hội tương lai đã trở thành một trong những tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời của lý luận về chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác.

[/tintuc]
Mô tả